Quảng cáo Giới thiệu sản phẩm điều trị loãng xương hiệu quả

Thảo luận trong 'Rao vặt' bắt đầu bởi suckhoehanhphuc, 25/11/19.

  1. suckhoehanhphuc

    suckhoehanhphuc Đang làm quen

    Tham gia ngày:
    26/6/16
    Bài viết:
    84
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Nơi ở:
    Hồ Chí Minh
    Bệnh loãng xương ở người già và phụ nữ sau sinh tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng lại là bệnh cần phải quan tâm đúng mức để tránh tình trạng gãy xương. Tuy nhiên hiện nay đã có sản phẩm đặc trị và chúng ta cũng sẽ an tâm vì được bác sĩ tin dùng và hiệu quả được nhiều nước công nhận.
    Giới thiệu sản phẩm Aclasta 5mg
    Hoạt chất: Một chai 100 ml dung dịch chứa 5 mg acid Zoledronic (khan), tương ứng với 5,330 mg acid zoledronic monohydrat.
    [​IMG]
    Tá dược: Mannitol, natri citrat, nước pha tiêm.

    - Điều trị loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh để làm giảm tỷ lệ gãy xương hông, gãy xương đốt sống, gãy xương không phải đốt sống và để làm tăng mật độ chất khoáng của xương.

    - Phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông ở nam giới và phụ nữ.

    - Điều trị bệnh Paget xương.

    Liều dùng

    Điều trị loãng xương sau mãn kinh: Để điều trị loãng xương sau mãn kinh, liều khuyến cáo là truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta 1 lần trong 1 năm.

    Phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông: Để phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông, liều khuyến cáo là truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta 1 lần trong 1 năm.

    Điều trị bệnh Paget xương: Để điều trị bệnh Paget, Aclasta chỉ nên được kê đơn bởi các bác sĩ có kinh nghiệm trong việc điều trị bệnh Paget xương. Liều khuyến cáo là truyền tĩnh mạch một liề đơn 5 mg Aclasta.

    Cách dùng

    Aclasta (5 mg trong 100 ml có sẵn trong dung dịch truyền) được dùng đường tĩnh mạch qua một dây truyền mở lỗ thông với tốc độ truyền hằng định. Thời gian truyền không được dưới 15 phút. Bổ sung calci và vitamin D trước và sau khi truyền.

    Bệnh nhân suy thận: Không khuyến cáo dùng Aclasta cho bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinine < 35mL/phút để đảm bảo một mức an toàn đầy đủ tránh bị suy thận ở bệnh nhân dùng thuốc ngoài môi trường thử nghiệm. Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinine > 35 ml/phút.

    Bệnh nhân suy gan: Không cần điều chỉnh liều.

    Người cao tuổi (≥ 65 tuổi): Không cần điều chỉnh liều vì sinh khả dụng, sự phân bố và thải trừ giống nhau giữa bệnh nhân cao tuổi và người trẻ tuổi.

    Trẻ em và thiếu niên: Không khuyến cáo dùng Aclasta cho trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi do thiếu dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả.

    Chống chỉ định

    - Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kì thành phần nào của tá dược hoặc với mọi bisphosphonate.

    - Hạ calci máu.

    - Phụ nữ có thai và cho con bú.

    tương tác thuốc

    Chưa có nghiên cứu được tiến hánh về tương tác thuốc đặc hiệu với acid zoledronic. Acid zoledronic được thải trừ qua sự bài tiết ở thận. Cẩn thận trong khi dùng phối hợp Aclata với các thuốc có ảnh hưởng đáng kể đến chức năng thận (ví dụ các aminoglycoside hoặc các thuốc lợi tiểu có thể gây mất mước).

    phụ nữ có thai và cho con bú

    Chưa có dữ liệu về việc sử dụng acid zoledronic ở phụ nữ có thai.

    tác động của thuốc khi lái xe và vận hành máy móc

    Chưc có dữ liệu sử dụng Alasta có ảnh hưởng dến khả năng lái xe hoặc sử dụng máy móc.

    Hạn dùng: 36 tháng.

    Bảo quản

    Chai chưa mở: không bảo quản trên 30oC.

    Sau khi mở: dung dịch ổn định về lý hóa ít nhất trong 24 giờ ở 2-8oC.

    Quy cách đóng gói: hộp 1 chai 100 ml.

    Hướng dẫn sử dụng và thao tác

    Không được pha trộn Alasta hoặc dùng đường tĩnh mạch với bất khì thuốc nào khác và phải truyền thuốc qua một dây chuyền riêng có mở lỗ thông với tốc độ truyền không đổi. Nếu giữ ở tủ lạnh, cần để dung dịch trở về nhiệt độ phòng trước khi dùng. Phải tuân thủ các kỹ thuật vô khuẩn trong suốt thời gian truyền.
     
  2. suckhoehanhphuc

    suckhoehanhphuc Đang làm quen

    Tham gia ngày:
    26/6/16
    Bài viết:
    84
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Nơi ở:
    Hồ Chí Minh
    Những thuốc dễ gây bất lợi cho người bệnh tim mạch
    Suy tim là tình trạng tim không cung cấp đủ lượng máu đáp ứng nhu cầu hoạt động của não, gan, thận và các cơ quan khác. Bệnh có thể diễn tiến từ nhẹ đến nặng. Một vài loại thuốc có thể làm trầm trọng thêm tình trạng này...
    [​IMG]
    Những thuốc dễ gây bất lợi cho người bệnh tim mạch

    Các thuốc giảm đau, chống viêm không steroid (NSAID)
    Các thuốc giảm đau NSAID có thể ức chế cả hai dạng đồng phân của enzym cyclooxygenase (COX) là COX-1 và COX-2. Có sự gia tăng nguy cơ tim mạch do sử dụng NSAID, đặc biệt là nhóm NSAID ức chế chọn lọc COX-2 như celecoxib. Ngay cả khi dùng thuốc trong thời gian ngắn cũng có thể làm tăng huyết áp và làm giảm tác dụng của các thuốc điều trị tăng huyết áp. Nhiều loại thuốc trị ho, cảm lạnh mua không cần đơn (thuốc OTC) có thể chứa NSAID. Bằng chứng hiện tại cho thấy rằng naproxen - một NSAID ức chế không chọn lọc, là thuốc có nguy cơ gây biến cố tim mạch thấp nhất. Do đó, naproxen là NSAID được lựa chọn ở những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao.
    Thuốc trị đái tháo đường
    Rosiglitazone và pioglitazone là 2 ví dụ phổ biến của thuốc điều trị đái tháo đường, làm giữ nước ở mức độ nguy hiểm ở những bệnh nhân suy tim từ trung bình đến nặng.
    Rosiglitazone được đưa vào sử dụng từ năm 1999, nhưng đến năm 2010, sau một loạt các bằng chứng lâm sàng có hại trên tim mạch, việc sử dụng thuốc đã bị hạn chế ở nhiều nước. Vào tháng 6/2013, sau thử nghiệm lâm sàng lớn, Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã kết luận rằng rosiglitazone không làm tăng tác dụng phụ trên tim mạch. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc hiện nay vẫn còn bị hạn chế.
    Mặc dù, việc sử dụng pioglitazone đã cho thấy những cải thiện đáng kể về nồng độ glucose máu cơ tim và lưu lượng máu của cơ tim nhưng thuốc lại có liên quan đến việc tăng tỷ lệ phần trăm và tăng lượng chất ức chế suy tim xung huyết ở một số bệnh nhân.
    Liệu pháp thay thế hormon và thuốc tránh thai đường uống
    Cả hai loại thuốc này đều làm tăng huyết áp. Các viên thuốc tránh thai hỗn hợp estrogen và progesteron có khuynh hướng làm tăng huyết áp. Cơ chế gây tăng huyết áp của thuốc tránh thai còn chưa được biết rõ. Viên thuốc tránh thai chỉ chứa progesteron thì không gây tăng huyết áp.
    Các chất kích thích
    Các thuốc hướng tâm thần được sử dụng trong điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) thuộc nhóm thuốc kích thích, bao gồm amphetamin và methylphenidate. Những loại thuốc này thường làm tăng huyết áp và tăng nhịp tim.
    Hóa trị liệu
    Doxorubicin là một trong số những thuốc hóa trị liệu ung thư có hiệu quả nhất, nhưng thuốc có thể phá hủy tế bào cơ tim. Điều trị bằng những thuốc này với liệu trình dài hạn ở mức liều thấp có thể an toàn hơn với nhiều bệnh nhân.
    Thuốc điều trị trầm cảm
    Điều trị trầm cảm ở những bệnh nhân có vấn đề về tim mạch là điều cực kì quan trọng. Nhưng, nếu bạn mắc suy tim, thì việc điều trị này cần được tiến hành cẩn thận.
    Tăng huyết áp có thể là hậu quả của việc ức chế tái hấp thu noradrenalin của thuốc, chẳng hạn như venlafaxine. Các thuốc chống trầm cảm ba vòng như amitriptylin cũng có thể làm tăng nhịp tim.
    Huyết áp cao hơn và nhịp tim bất thường có thể là hậu quả của việc phối hợp các thuốc ức chế monoamine oxidase (IMAOs), như phenelzin với phô-mai, rượu vang và dưa chua.
    Các loại thuốc gây nghiện
    Cocain và metamphetamin có thể gây ra một cơn tăng huyết áp và tăng nhịp tim đột ngột. Cocain cũng có thể làm hẹp các buồng bơm ở tim và là một trong những tác nhân gây bệnh cơ tim giãn.
    Những thuốc khác
    Những thuốc khác như sildenafil (viagra) thường được kê đơn trong điều trị rối loạn cương dương, không chỉ an toàn mà còn thể hiện lợi ích ở một vài bệnh nhân suy tim, ở cả nam và nữ. Bằng cách tăng lưu lượng máu đến tim, thuốc làm tăng tốc độ phục hồi và tăng khả năng tập thể dục, cùng với khả năng tận hưởng tình dục. Vì sildenafil có thể tương tác bất lợi với một số thuốc khác mà người bệnh tim mạch có thể đang dùng, nên việc sử dụng cần được giám sát bởi bác sĩ.
    Với những cảnh báo này, những người mắc bệnh tim mạch cần thận trọng khi dùng thuốc (kê đơn và không kê đơn). Cần trao đổi và hỏi ý kiến bác sĩ để có một liệu trình điều trị tối ưu, nâng cao hiệu quả và hạn chế những biến cố bất lợi có thể gặp của thuốc.
     
  3. nhunghuounhanviet

    nhunghuounhanviet Banned Tài khoản đã bị khóa

    Tham gia ngày:
    28/11/12
    Bài viết:
    103
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    up cho ae nào cần .!!
     
  4. suckhoehanhphuc

    suckhoehanhphuc Đang làm quen

    Tham gia ngày:
    26/6/16
    Bài viết:
    84
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Nơi ở:
    Hồ Chí Minh
    Bệnh vẩy nến là bệnh da mãn tính làm tăng tốc độ chu kỳ phát triển của tế bào da, khiến các mảng da nổi lên, đỏ, có vảy xuất hiện trên da. Phương pháp điều trị bệnh vẩy nến bao gồm từ thuốc mỡ tại chỗ đến liệu pháp tia cực tím đến thuốc tác động từ bên trong. Bệnh vẩy nến có liên quan đến các tình trạng nghiêm trọng khác, chẳng hạn như bệnh tiểu đường, bệnh tim và trầm cảm.
    [​IMG]
    Thông qua một cuộc khảo sát do Tổ chức Bệnh vẩy nến Quốc gia phân phối, một nhóm do Adam Friedman, MD, chủ tịch lâm thời của Khoa Da liễu thuộc Trường Khoa học Y tế và Sức khỏe GW, phát hiện ra rằng bệnh nhân bị bệnh vẩy nến thường chuyển sang dùng thuốc bổ sung hoặc thay thế khi họ thuốc truyền thống thất bại hoặc trình bày tác dụng phụ khắc nghiệt.

    Friedman giải thích: "Bệnh nhân chuyển sang các phương pháp điều trị này vì những gì được chỉ định ban đầu không mang lại kết quả cho họ". "Nhưng những gì chúng tôi tìm thấy qua cuộc khảo sát là bệnh nhân có thể không hoàn toàn hiểu sản phẩm nào sẽ hoạt động tốt nhất cho họ."

    Cuộc khảo sát cho thấy bệnh nhân báo cáo sử dụng thuốc bổ sung và thay thế mà trước đây chưa thể hiện hiệu quả hoặc chưa được nghiên cứu để điều trị bệnh vẩy nến. Vitamin D và B12 thường được báo cáo, mặc dù cả hai đều không có tài liệu về hiệu quả chống lại căn bệnh này. Ngược lại, chàm tự nhiên - một chiết xuất thực vật được sử dụng rộng rãi trong Y học cổ truyền Trung Quốc và được công nhận là một liệu pháp cho một số tình trạng viêm - đã cho thấy hiệu quả, nhưng không được báo cáo trong cuộc khảo sát. Phương pháp điều trị Biển Chết thường được báo cáo và đã cho thấy lợi ích điều trị.

    "Ngoài các phương pháp điều trị được lựa chọn, chúng tôi cũng nhận thấy rằng ít hơn một nửa số người được hỏi sẽ đề nghị các liệu pháp bổ sung hoặc thay thế cho những người khác," Friedman nói. "Đây có thể là kết quả của việc sử dụng các liệu pháp được hỗ trợ bởi bằng chứng hạn chế."

    Thừa nhận rằng các phương pháp điều trị này là một phần trong vũ khí của bệnh nhân, Friedman và nhóm của ông đề xuất rằng các sáng kiến giáo dục cho phép các bác sĩ thảo luận về thuốc bổ sung và thuốc thay thế dựa trên bằng chứng có thể cải thiện sự hài lòng và kết quả của bệnh nhân.

    Sự lựa chọn ưu tiên hàng đầu trong điều trị bệnh vảy nến hiện nay là phương pháp dùng thuốc mỡ bôi ngoài da kết hợp với thuốc đặc trị vảy nến chẳng hạn như Soriatane 10mg. Khách hàng có nhu cầu tìm hiểu thêm về thuốc soriatane 10mg vui lòng tham khảo tại đây


    Xem thêm:

    Bổ Sung Kẽm, Axit Folic Không Tăng Cường Khả Năng Sinh Sản Của Nam Giới

    Dịch Khớp Đóng Vai Trò Quan Trọng Trong Đau Xương Khớp

    Những Điều Cần Đọc Kỹ Khi Sử Dụng Thuốc ?
     
Đang tải...

Chia sẻ trang này